1/ NGUỒN GỐC
Qua nhiều thế
kỷ, lối
sống và các diễn biến xã hội tại
Coffee houses (Cách gọi
ở thế
kỷ XVII) đã thay đổi rất
nhiều, nhưng
đồng thời,
có những giá trị gần như không
hề mai một.
Quán cà phê, qua nhiều khoảng thời
gian và không gian, đã từng
là một trong những tụ điểm công cộng
chính để các thành viên của xã hội
gặp gỡ,
thảo luận
về chính trị, tham gia kinh doanh, theo đuổi nghệ thuật, hoặc
đơn giản
là chuyện trò kết thân với
mọi người.
Với vai trò có ý nghĩa văn hóa như vậy,
quán cà phê đã trở thành nền tảng
cho rất nhiều
biến đổi
xã hội.
Phát hiện ra cà phê, ở một mặt nào đó cũng quan trọng như
việc phát minh ra điện thoại
hoặc kính hiển vi, trước
khi có những phát kiến này chúng ta biết rất
ít về thế
giới rộng
lớn hoặc
những điều
nhỏ bé đến
khó tin. Đây là một sự thật
kỳ diệu, kể
từ khi phát hiện ra cà phê, một
khối lượng
lớn những
người không phải là thiên tài đã tìm thấy
trong bộ não của họ
một sự
phục tùng mạnh
mẽ có nhiều
khả năng của
thiên tài.
Theo đó, những ghi chép đầu tiên về
việc tiêu thụ cà phê có từ
giữa thế
kỷ 15 khi các nhà huyền môn Sufi (Ả Rập) bắt đầu
sử dụng
một loại
đồ uống
để giúp họ
tỉnh táo trong khi cầu nguyện
suốt đêm, nó được điều chế bằng
cách đun vỏ quả cà phê phơi khô trong nước sôi. Khi người Sufi đi đến
Ethiopia họ quan sát thấy được
người dân địa
phương sử
dụng cà phê như thế và mang loại “thảo
dược” này băng qua Biển Đỏ
đến các khu vực phía nam của
bán đảo Ả
Rập (ngày nay là một phần
của Yemen). Người Ethiopia gọi
cách “pha cà phê” này là Buno, nhưng
người Sufi đã đặt tên cho nó là Qishr.
2/ ĐẾ CHẾ OTTOMAN
Vào thời điểm
những năm 1550, thức
uống đến
Constantinople (thủ đô Thổ Nhĩ
Kỳ) của Đế
chế Ottoman nó đã phát triển đáng kể.
Cà phê được pha chỉ từ
hạt cà phê, chứ không phải
vỏ quả
hay thứ gì khác của cây (có lẽ vì hạt cà phê tỏ ra dễ
vận chuyển
hơn). Các quán cà phê Thổ Nhĩ Kỳ bấy giờ được ưa
chuộng vì phong cách bình đẳng của
khách hàng, theo chỗ ngồi và theo thứ tự đến, không phân biệt theo thứ hạng tầng lớp.
Tuy nhiên, phiên bản Ả
Rập của
thức uống
vẫn chủ
yếu là đun bằng nước sôi, sử dụng
hạt rang nhẹ với đường. Ngay cả những khách hàng tương đối
nghèo cũng nhận được lòng hiếu khách, vì họ
có thể mua cà phê cho bạn đồng
hành, qua đó tạo ra một lối
sống xã hội
và văn hóa tiêu dùng riêng. Tuy nhiên, quán cà phê cũng vấp phải
sự phản
đối bởi
nhiều người
đứng đầu
xã hội (đáng chú ý nhất là việc
hút thuốc lá) dẫn đến
một số
như tuyên
bố như “bất
cứ ai mở
quán cà phê cũng nên bị
treo lên cửa quán”
3/ XUNG ĐỘT
CHÍNH TRỊ -
TÔN GIÁO
Vụ chống
đối đầu
tiên với phong trào quán cà
phê được ghi nhận
xảy ra ở
Mecca năm 1511, khi Khair Beg al-Mimar, một
quan chức thế tục
nổi tiếng
trong chế độ tiền
Ottoman, bắt gặp những
người đàn ông uống cà phê bên ngoài nhà thờ
Hồi giáo và nghi ngờ về
việc đó. Các chi tiết của
cuộc chống
đối không rõ ràng, nhưng ông
đã sử
dụng các biện minh tôn giáo để
ra lệnh chấm
dứt tất
cả việc
bán và tiêu thụ cà phê. Những cuộc
đàn áp cà phê sau đó còn xảy
ra ở Mecca (một lần nữa), Cairo (nhiều lần), Istanbul và các khu
vực khác của
Ottoman.
Vào cuối thế
kỷ 18, nhiều
nơi gặp
gỡ thế
tục hơn
đã xuất
hiện, các nhóm bất đồng chính kiến trở
nên cố thủ
hơn và
các quán
cà phê
không còn
là nơi
ủ chứa
của bất
đồng chính kiến. Lệnh cấm đã được
dỡ bỏ,
mặc dù các nhà cai trị vẫn
cài cắm các điệp
viên trong đó để theo dõi những cuộc
trò chuyện chống chế
độ
4/ CÀ PHÊ TRỞ
THÀNH DƯỢC
PHẨM Y TẾ
Vào những năm 1570 cà phê đã nhanh chóng du nhập vào châu Âu. Cà phê được đưa
đến Venice bởi các thương
nhân Thổ
Nhĩ Kỳ, cho đến nửa đầu
thế kỷ
17, cà phê hầu như chỉ
được cung cấp
bởi các bác sĩ, dược sĩ với
vai trò như một loại
thảo dược.
Các bang hội này vẫn giữ
quyền kiểm
soát thương mại của
cà phê đến mức khó mà buôn bán như một
mặt hàng cho tiêu dùng gia đình, chứ đừng
nói đến việc
phục vụ
nó như một
thức uống
đại chúng.
Trong thế kỷ
XVII, cà phê đã nhanh chóng bị
đồng hóa vào “thị trường y dược” của
Vương quốc
Anh. Việc sử dụng
nó được quảng
bá bởi các nhà bào chế thuốc,
bác sĩ, nhà bán lẻ và quan trọng nhất
là bởi chính người tiêu dùng các sản
phẩm chăm sóc sức khỏe. Ngay lập tức,
người tiêu dùng Anh đã được giới
thiệu về
cà phê như là một
loại thuốc
mới và một
loại đồ
uống mới.
Mặc dù được
quảng bá như
một loại
dược phẩm,
nhưng cà
phê không
chỉ giới
hạn ở
cơ sở
y tế mà nó đồng
thời trở
thành một phần không thể thiếu trong đời sống
văn hóa đô thị LonDon cũng như một
thành phần mới của
dược điển
Anh thế kỷ XVII – Theo The Social Life of Coffee
5/ CAFFEINE-CÁI TÊN CỦA HỢP
CHẤT TRONG LOẠI HẠT
GÂY NGHIỆN
Caffeine lần đầu
tiên được cô lập từ
hạt cà phê vào năm 1820 bởi nhà hóa học F. Runge. Ở
điều kiện
phòng, caffeine nguyên chất
là một loại
bột tinh thể màu trắng,
không mùi có vị đắng. Các tinh thể caffeine có thể
gợi lại
cho chúng ta về hình dạnh của
các tinh thể băng tuyết, tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, caffeine có thể thay đổi
trực tiếp
từ trạng
thái rắn sang trạng thái hơi mà không hóa
lỏng như nước. Hơn
nữa cái tên “Caffeine” không cung cấp bất
kỳ thông tin nào về bản chất
hóa học của
chất này – Ngoài việc được
xác định là chất
hữu cơ
thuộc nhóm Alkaloids.
Caffeine là chất kích thích được biết đến rộng
rãi nhất trên trái đất và hạt
cà phê là hệ thống phân phối hàng đầu
của nó. Ngày nay, hầu hết
dân số trên thế
giới, bất
luận giới
tính, tuổi tác hay văn hóa đều tiêu thụ caffeine hàng ngày.
Trong khi chờ đợi
sự khám phá của con người,
loại thuốc
này đã ngủ yên ở nhiều
môi trường khác ngoài cà phê.
Thiên nhiên như một khối
rubik đa diện khổng lồ,
do đó chúng ta vinh dự
được ngắm
nhìn caffeine dưới nhiều cách ngụy trang. Những
loài thực vật có chứa
caffeine được tìm thấy ở
tất cả
các nơi trên
thế giới.
Người Sudan ở
Châu Phi có được lợi ích của
caffeine từ một chiết
xuất của
hạt kola; những bộ tộc ở
Nam Phi, lại tìm thấy một
loại cây bụi
tên cyclopia và sử dụng nó như
một loại
trà. Mặt khác, bằng việc
rang rang Paullinia cupana, người
Ấn Độ ở khu vực
Amazon có một nguồn caffeine thay thế mà họ
đặt tên là “Guarana”. Người Brazil và Paraguay, thì từ lâu cũng đã quen sử dụng
caffeine từ một loại
nước pha bởi
lá Holly.
Thèm caffeine, hay
nghiện cà phê hòa toàn có thể xuất
phát từ nhu cầu sinh học
bản năng của
chúng ta
Một cốc
cà phê ngon có thể biến một
ngày tồi tệ nhất
trở thành không đến nỗi, đem đến một
khoảnh khắc
trầm ngâm thưởng thức cực kỳ trọng
yếu, nhen lại một cuộc tình. Nó đã từng bị cấm như
là một
nhân tố xuối giục
các cuộc cách mạng nổi
dậy ở
những nước
Ả Rập
và châu Âu, nó đã bị lăng mạ như
một kẻ
hủy hoại
sức khỏe
ghê gớm nhất
hành tinh. Và lại từng được
tung hô lên tận mây xanh vì đã phục vụ
lợi ích cho nhân loại.
Lúc đầu cà phê được coi như
là thức
uống có tác dụng chữa bệnh của
tầng lớp
tinh hoa, sau đó nó trở
thành chất kích thích sành điệu được
ưa thích
bởi đám công nhân áo xanh trong giờ giải
lao, thành kẻ khơi chuyện,
buôn dưa lê trong nhà bếp
của tầng
lớp trung lưu, là keo dính lãng
mạn cho những
đôi lứa đang tán tỉnh, phải
lòng nhau, và là người bạn chí cốt
cay đắng, đơn
độc cho những
tâm hồn lạc
lối sầu
bi.
Chưa có đồ uống không cồn
nào từng gặp phải
nhiều sự phản đối như cà phê. Được
nhà thờ trao cho thế giới và
bảo chứng bởi
nghề y, tuy nhiên nó vẫn phải chịu đựng sự mê tín tôn giáo và định kiến y
khoa. Sau hàng
ngàn năm phát triển, nó đã trải
qua những biến động
chính trị khốc liệt,
những chế tài ngu ngốc,
những khoản thuế bất công, những đồn thổi vô
lý; Nhưng, sống sót sau tất cả những
điều này, nó đã đắc thắng
chuyển đến một vị trí quan trọng
nhất trong danh mục đồ uống phổ biến – William Ukers, All about Coffee
Một mặt,
hình thức độc canh của
cà phê đã đưa đến nạn
áp bức và chiếm
hữu đất
đai đối với
người bản
địa ở
nhiều quốc
gia, đẩy nền nông nghiệp từ tự cung tự
cấp sang chỉ phục vụ cho mục
đích xuất khẩu, để
rồi hoàn toàn phụ thuộc vào những thị
trường nước
ngoài, phá hủy những cánh rừng nhiệt
đới, và làm suy thoái môi trường. Mặt
khác cây cà phê là nguồn
sống và thu nhập chính của
nhiều nông hộ,
là cơ sở
để tiến
hành thành công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa một đất
nước.
6/ SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ
Châu Âu cho đến thời
điểm này chủ
yếu dựa
vào đồ uống
có cồn yếu
để giải
khát, sự có mặt của
cà phê, với vai trò là một loại
đồ uống
không chỉ duy trì trạng thái tỉnh táo mà còn tiếp
thêm sinh lực cho não. Chính mục đích này, quán cà phê trở thành nơi
gặp gỡ
của những
thương nhân
đã khơi màu
cho sự ra đời
của Sở
giao dịch chứng khoán Luân Đôn.
Lần đầu
tiên quán cà phê xuất hiện chính thức tại Pháp là vào năm 1689
với Café de Procope. Ban đầu người
Pháp từ chối cà phê và các hình thức liên quan của nó do vị
đắng, giá cao và sự bài xích với Hồi giáo và Ottoman.
Landweber lập luận rằng
một quá trình phức tạp đã diễn ra, trong đó cà phê đã từng được
biến tấu
theo “kiểu Pháp” đồng thời
được tôn vinh là kỳ lạ. Người
Pháp đã thêm sữa vào cà phê, tách rời thức
uống từ
nguồn gốc
Ottoman mạnh mẽ của
nó. Đối với
các quán cà phê, họ làm cho thêm phần sang trọng với “bàn đá cẩm thạch,
gương lớn
và đèn chùm lạ mắt”.
Cà phê mang đến một
khởi đầu
kích thích nhưng tỉnh táo cho đến thời điểm này đã cho phép nó thay thế bia và rượu như một thức
uống sáng suốt được lựa chọn
bởi nhiều
gia đình tư sản châu Âu. Trong thế kỷ
18 cà phê đã mở rộng vào các lãnh thổ Hà Lan ở
Đông Á, đáng chú ý Java và các thuộc
địa của
Pháp ở Caribbean, Martinique,.. và trên hết, Saint Sebastue (Haiti ngày nay) đã nhanh
chóng trở thành nguồn cà phê hàng đầu trên thế
giới.
7/ SẢN
XUẤT - THƯƠNG MẠI CÀ
PHÊ
Suy cho cùng ấy chỉ
là một loại
quả, bên trong mỗi trái có hai nhân. Nó sinh trưởng như một bụi
cây – hay lùm cây nhỏ, mọc ở
cánh rừng nhiệt đới
Ethiopia, hoặc chênh vênh trên các
sườn núi, sườn
đồi.
Nền văn minh, trong trong vòng xoáy phát triển của
nó, đã chỉ ra ba loại đồ
uống (không cồn) quan trọng
nhất: Lá trà – dẫn đầu lượng tiêu thụ, tiếp đến là hạt
cà phê, và cuối cùng là hạt ca cao. Tuy nhiên, trong thương mại
quốc tế,
hạt cà phê chiếm một vị trí quan trọng hơn rất nhiều.
Tất cả
các quốc gia đều giữ
cà phê ở một vị
trí độc tôn, công nhận là một
nhu cầu thiết
yếu và là một hệ thống năng lượng hiệu quả.
Có thể là một
sự may mắn
thuần túy khi cà phê đến nơi
mà chúng
ta biết bây giờ
là Trung Đông vào buổi bình minh của một
thời kỳ học
tập và giác ngộ chưa từng có trong thế kỷ 9 và 10. Cũng có thể là một
sự trùng hợp
ngẫu nhiên khi mà trong 1.000 năm qua, trong hơn một
vài lần, sự
khám phá văn hóa về cà phê đã dẫn đến
thế đối
đầu với
sức mạnh
quyền lực
toàn cầu: từ Ottoman, đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan và Mỹ. Nó có lẽ cũng là một
sự trùng hợp
ngẫu nhiên khi mà các quá cà phê, hết lần
này đến lần
khác, đã định hình cách suy nghĩ
mới, thách thức các hệ
thống tư
duy cũ và
mở ra học
hỏi và tranh luận.
Bất kỳ
nơi nào cà phê được
mang đến, nó cũng báo hiệu một cuộc cách mạng.
Nó là thứ thức uống cấp tiến nhất thế giới, vì tác dụng của nó là luôn luôn khiến con người phải tư
duy. Và khi
con người tư duy, họ trở nên nguy hiểm đối với những tên bạo
chúa – William Ukers, All about Coffee
Thật vậy,
việc tiêu thụ cà phê đã được
liên kết ẩn sau với
các phong trào phản kháng chính trị trong toàn bộ lịch sử của
nó, ít nhất là cho đến thế
kỷ XIX. Cà phê đã thúc đẩy tư
duy rõ ràng
và sống
đúng bất cứ nơi
nào được
giới thiệu.
Nó đã đi đôi với thế giới
về phía trước
khi tiến tới dân chủ.
Ngày nay, cà phê là
sinh kế của hơn
20 triệu người. Công nhân phải điều chỉnh quy trình chế biến phức tạp
loại bỏ
vỏ vỏ
và chất nhầy
bao phủ nhân cà phê. Rồi nhân ấy
phải được
đem phơi khô nhiều
ngày loại bỏ vỏ
trấu và lớp
màng lụa trước khi đóng bao bì để vận
chuyển, rang, xay và pha chế trên khắp
thế giới.
Trong suốt
chiều dài lịch sử của ngành cà phê, lúc nào cũng có thể gặp những lời lẽ giống
lên hồi chuông về sự bất công, đàn áp & cưỡng bức..
Nhưng không phải tất cả công nhân trồng
cà phê trên những đồn điều đều bị bóc
lột. Lỗi không nằm ở cây cà phê hay cách nó được vun trồng
mà ở cách đối xử giữa các giai cấp xã
hội – Mark Pendergrast, Uncommon
Ground
Tại những
nước sản
xuất cà phê, danh sách những người
kiếm sống
từ loại
hạt này vẫn
còn được bổ
sung dài dài: Có những nhà xuất khẩu,
những nhà nhập khẩu, và những nhà xay. Có những thương
nhân hăng
máu trong những khu vực
đấu giá của
sàn giao dịch cà phê, khoa chân
múa tay, gào thét, và làm giá một
mặt hàng mà họ chẳng hề tận
mắt nhìn thấy nó. Có những
chuyên gia thẩm định cà phê (ngày nay chúng ta gọi là Cupping) dành cả ngày để
xùy xụp, hít hà nước cà phê họ
nếm. Có những
nhà bán lẻ mới nổi,
nhà cung cấp thiết bị,
công ty quảng cáo, v.v..
8/ NĂNG LƯỢNG
CHO THỂ CHẤT VÀ TRÍ TUỆ
Khi hệ thống
thần kinh trung ương, não và tủy
sống, bị
xâm chiếm bởi tác động
kích thích của caffeine, nó mang lại sự
giãn nở của các mạch
máu, caffeine ảnh hưởng đến
trung tâm hô hấp mở rộng
khí quản và nó xua tan sự tích tụ
tê liệt ,thúc đẩy nhu động
ruột và hoạt
động của
thận. Mọi
tế bào của
cơ thể
con người, như đã
được cải
tạo, ngay khi tiếp nhận caffeine.
Nhà sinh lý học người Mỹ
Horatio Wood đã nghiên cứu
tác dụng của caffeine đối với sự lưu thông
tuần hoàn và cơ bắp. Với các công trình nghiên cứu đồ sộ, Wood mô tả việc thúc đẩy
năng lượng cơ bắp bằng caffeine như
sau: “Caffeine
hoạt động như một tác nhân kích thích các trung tâm phản xạ của hệ thần kinh. Nó cho phép các cơ co bóp mạnh hơn,
không bị căng thẳng
sau đó. Vì vậy,
toàn bộ công việc cơ bắp được thực hiện bởi một người đàn ông đã sử dụng một lượng caffeine lớn hơn trạng
thái mặc định mà anh ta có thể làm.”
Wood cũng đã rút ra
kết luận:
“Nếu cơ
luôn hoạt
động tốt
hơn với
sự có mặt
của caffeine, mà không phải trả
giả cho điều
này bằng bất
kỳ cách nào khác ngoài việc
bắt đầu
mệt mỏi
tự nhiên, chúng tôi buộc phải
nhận ra rằng
caffeine không chỉ đơn thuần
là tăng cường sức mạnh
của sự
co cơ, mà
còn cho phép
các cơ
thể hoạt
động hiệu
quả hơn
với cùng một
khoản tiêu hao năng lượng.”
Dù thực tế rằng,
caffeine là một loại thuốc trừ sâu tự
nhiên, và cây cà phê dùng nó để tác
động đến hệ thần kinh của
côn trùng, không khuyến
kích chúng ăn loại
cây này. Tuy nhiên chính điều đó
lại hấp dẫn
con người. Thật khó để đưa ra một mô
tả sống động hơn của sức mạnh
sáng tạo và tự do của
con người mà cà phê tác động lên não. Ảnh hưởng bốc đồng, nổi loạn, chống bảo thủ này
đã làm cho cà phê, trong suốt lịch sử của nó trở
thành một điềm báo của
cách mạng và dấy lên sự hỗn loạn.
Vào thế kỷ
XVII, người Hà Lan đã mang về từ
Yemen hạt giống cà phê Arabica (bất hợp
pháp vào thời điểm này) và vận chuyển
chúng đến các thuộc địa
của họ ở Indonesia. Họ đã trồng
chúng và bắt đầu ngành nông nghiệp cà phê, đặc biệt là trên đảo Java. Sau đó, họ bắt
đầu mở
các đồn điền
lớn ở
Sumatra và Bali. Người Hà Lan đã trở thành những người buôn bán cà phê
hàng đầu ở Châu Âu.
Do các chính sách Hệ thống
trồng trọt
(Cultuurstelsel) thỏa thuận giữa
người Hà Lan và các nhà lãnh đạo bộ
lạc nơi
họ xâm chiếm,
người dân địa
phương đã
buộc phải
ngừng trồng
lúa, cây ăn trái, rau quả
– những thứ
họ cần
để duy trì cuộc sống mà thay vào đó,
chuyển đất
sang sản xuất cà phê. Chính sách này đã mang lại cho Hà Lan và các đồng minh Indonesia tài sản khổng
lồ thông qua xuất khẩu, nhưng đồng
thời mở
ra một nạn
đói khủng khiếp, gây ra nhiều cái chết,
buộc người
Hà Lan phải đã từ bỏ
chính sách này và cho phép người
dân địa phương
trồng cây lương
thực cùng với
cà phê.
“Max Havelaar” hoặc “Các cuộc đấu giá cà phê của
Công ty Thương mại Hà Lan”, là cuốn tiểu
thuyết theo chủ nghĩa lý tưởng
trẻ, muốn chấm dứt sự ngược đãi và áp bức đối với người Java bản địa do buôn bán cà phê & tham nhũng gây ra.
Cuốn tiểu thuyết đã
gây tranh cãi khi nó được xuất bản lần đầu
tiên ở Hà Lan, vì sự lột trần đối với các công ty cà phê lúc bấy giờ, nhưng đạt được sự ủng hộ rất lớn, trong thế kỷ XX nó đã được dịch sang 34 thứ tiếng.
Để công nhận
sức ảnh
hưởng của
cuốn tiểu
thuyết này trong xã hội Hà Lan, cũng như xác
định vai trò mà quốc gia của
họ đã đóng góp trong lịch sử
cà phê, cái tên Max Havelaar đã được
phong trào Fair trade sử
dụng như
một biểu
trưng cho mục
tiêu của họ. Vào những
năm 1980, khi giá cà phê đã giảm
mạnh, một
nhóm các tổ chức xã hội
và giáo hội Hà Lan đã cùng nhau
thành lập Quỹ Max Havelaar vào năm 1988 để thúc đẩy
buôn bán và sản xuất các sản
phẩm cà phê được chứng nhận là thương
mại bình đẳng.
Người trồng,
dù ở Châu Phi hay Nam Mỹ, giao dịch
với một
nhà môi giới – người kiếm
lợi nhuận
bằng cách sắp xếp để bán nhân cà phê ấy cho người
xuất khẩu.
Nhà xuất khẩu trả
tiền cho người
trồng và sau đó bán cà phê cho một nhà nhập
khẩu, đồng
thời thêm biên lợi nhuận của anh ta vào nhân cà phê ấy,.. Nhà rang xay bán cà phê cho một nhà bán buôn, hoặc cho một
chủ cửa
hàng cà phê, sau đó họ
sẽ tăng giá một lần nữa để
trang trải tiền thuê nhà xưởng, thuế
và chi phí lao động khác. Nói tóm lại, đó là một chặng đường dài từ
cây đến cốc
với nhiều
cơ hội
lạm dụng
giá cả và sự
bất bình đẳng
liên tục được bồi
đắp.
Việc trồng
cà phê là một
cách để
hạn chế
nghèo đói, nhưng
chắc chắn
không phải
là con đường
dẫn đến
sự thịnh
vượng – Britta Folmer
Khi thế kỷ
XX kết thúc, nhiều phong trào thu hút sự
chú ý đến tính mất cân đối
trong kinh tế của thương
mại cà phê đã có tiếng nói lớn
hơn trong cuộc tranh luận.
Nhưng đây
không phải
là một phát kiến mới. Trong nhiều thập
kỷ, đã có nhiều nỗ lực được
được thực
hiện để
nâng cao nhận thức người
tiêu dùng đối với chi phí thực sự của cà phê sáng giá rẻ của
họ và hoàn cảnh của người trồng
– Carol Robertson
Trước
tiên, lấy lại sự
công bằng về giá
Nguyên tắc thương
mại bình đẳng
áp dụng cho một
số mặt
hàng, nhưng đặc biệt
là cà phê – đây là mặt hàng được giao dịch
nhiều nhất
sau dầu hỏa.
Và mặc dù sự
bất bình đẳng
đã tồn tại
qua nhiều thế kỷ,
nhưng các
năm 1980 đến
1990 là thời kỳ tăm tối nhất
của giá cà phê khi hệ thống
hạn ngạch
của ICO sụp
đổ, chi phí trả về cho người trồng
nằm ở
mức đáy. Đầu
những năm 2000, sự suy thoái giá cà phê thế
giới đã gây ra một cuộc khủng hoảng
trầm trọng
cho người trồng. Tại
Việt Nam, lúc này đang là nước sản
xuất cà phê lớn thứ ba thế giới,
sau Brazil và Colombia, giá cà phê xanh chỉ
bù lại cho người
trồng chưa
đến 60% chi phí sản xuất.
Một trong những nguyên tắc
đầu tiên và quan trọng nhất
của phong trào Fair trade trong thương mại
là đảm bảo
lợi nhuận
trong trong sản xuất cà phê của thông qua một
mức giá tối
thiểu cho nông dân (cho cà phê của họ)
bất kể
giá thị trường hiện
là bao nhiêu. Thêm vào đó, các nhóm Fair trade sẽ làm việc
với các hợp
tác xã của các nông dân nhỏ, và đảm
bảo một
khoản tín dụng
lên tới 60% giá cả trước khi họ thực
sự giao cà phê để cho phép họ
đầu tư
vào sản
xuất.
Tiếp đến, xây dựng
tính bền vững
Một vấn
đề khác cũng thu hút sự chú ý vào cuối thể kỷ 20 là sự
tàn phá của những khu rừng
mưa rộng
lớn và suy thoái môi trường do các đồn điền cà phê lớn gây ra. Nửa sau của
thế kỷ
đã chứng kiến
sự thay đổi
trong cách thức trồng và sản
xuất cà phê, do sự gia tăng nhanh chóng trong sản xuất cà phê và sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng đối với cà phê đặc sản.
Để đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng này, ngành công nghiệp cà phê đã chuyển từ
sự phụ
thuộc vào các nhà sản xuất cà phê nhỏ sang trồng
công nghiệp trên các đồn điền
lớn hơn.
Theo truyền thống,
cà phê đã được trồng dưới
tán cây che bóng trong hàng thế
kỷ, cho đến
khi yêu cầu năng xuất thúc đẩy
những thay đổi trong canh tác. Nông dân trồng cà phê đã chuyển
đổi từ
bóng râm sang phơi sáng, chặt
cây che bóng để trồng cà phê ngoài trời. Các giống cà phê phát triển
mạnh dưới
ánh mặt trời
cũng bắt đầu thay thế cà phê truyền
thống.
Không phải chỉ
vì cây cà phê mà môi trường
sẽ xấu
đi càng nhiều,
cũng không phải
chỉ vì nhãn dán môi trường mà nhiều
điều tốt
đẹp sẽ
đến với
người canh tác cà phê hay né tránh được biến
đổi khí hậu
Cà phê được trồng
phơi sáng
dưới ánh mặt
trời được
quảng bá vì hai lý do. Một là nhu cầu về cà phê tăng lên đã tạo ra động
lực để
thúc đẩy sản xuất
tăng mạnh sau đó. Nhiều cây hơn
được trồng
phơi sáng
trực tiếp
trên một diện tích trồng giúp tăng gấp ba lần
năng suất so với cây được
trồng trong bóng râm. Và cũng chính sự ám ảnh
của nông dân đối với bệnh rỉ
sét cà phê cũng dẫn đến việc
sử dụng
thuốc trừ
sâu và phân bón trên các đồn
điền cà phê ngày càng tăng.
Nhu cầu này đã thúc đẩy rất nhiều phong trào chứng nhận cà phê khác nổi lên như
canh tác dưới
bóng râm (Shade-grown coffee), thân thiện
với chim (Bird-friendly coffee), và Fair trade
cũng có giá trị tương ứng.
Như một
lợi ích bổ
sung, nhiều người sành cà phê cho rằng cà phê hữu cơ trồng dưới
bóng râm có tiềm năng hương vị
tốt hơn
cà phê
được sản
xuất hàng loạt. Thực tế là là cà phê được trồng bằng các phương pháp truyền thống
này mất nhiều
thời gian hơn
để trưởng
thành và một hạt cà phê chín từ từ sẽ tích lũy được nhiều hương vị
hơn.
Trong những năm gần
đây, các tổ chức Fair trade đã bị chỉ
trích tương đương với
niềm tin về
những lợi
ích mà họ mang lại. Bởi
vì họ đã tham gia vào mối quan hệ
với các nhà bán lẻ cà phê lớn,
như Starbucks và Dunkin ‘Donuts,
cấp phép quyền sử dụng nhãn “Fair Trade Certified” trên cà phê được bán trong các cửa hàng của
những thương
hiệu này. Điều này làm dấy
lên lo ngại, rằng họ
sử dụng
Fair trade như một vỏ
bọc để
nâng cao hình ảnh cộng đồng
nhằm thu hút sự chú ý khỏi
những lạm
dụng thực
sự trong thương mại cà phê. Tuy nhiên,
nhiều ý kiến
đối lập
cũng khen ngợi các công ty tương tự
về các bước
đi họ đang thực
hiện.
Cách thức chính mà các tổ chức
này được phân biệt với các tổ chức
Fair trade là giá cả mà họ trả
cho cà phê. Chứng nhận Fair trade đảm bảo mức giá tối
thiểu cho người
trồng, thường
cao hơn giá
thị trường
vì nó dựa trên biên lợi nhuận
hợp lý cho người trồng để tái đầu
tư vào
các đồn
điền của
họ chứ
không phải sự biến
động mơ
hồ của
giá cả. Các nhà phê bình của phong trào Fair trade cho rằng việc
đảm bảo
giá tối thiểu
theo Fair trade chỉ làm trầm trọng
thêm vấn đề suy thoái giá cà phê. Nó thu hút người trồng
vào thị trường bởi
một mức
giá cao giả tạo, từ
đó dẫn đến
nguồn cung cà phê dư thừa.
Có vẻ không hợp
lý khi hy vọng các tổ chức
đa quốc gia lớn
sẽ chuyển
đổi nguồn
cung ứng của
mình sang các sản phẩm được
chứng nhận
thương mại
bình đẳng. Và có một số
lo ngại về
việc liệu
thị trường
Fair trade có thể trở nên đủ
lớn để
đạt được
sự cải
thiện thực
sự về
tiêu chuẩn ở các quốc
gia đang phát triển hay không. Tuy
nhiên, doanh số bán cà phê được chứng
nhận Fair trade đã tăng đáng kể ở
trong vài năm qua.
Bài viết được
sưu tầm
nhiều nguồn
khác nhau. Vì vậy Valencoffee luôn
hoan nghênh các đóng góp từ
quý bạn đọc
Nhận xét
Đăng nhận xét