Chuyển đến nội dung chính

HÀNH TRÌNH CHINH PHỤC THẾ GIỚI CỦA CÀ PHÊ


1/ NGUỒN GỐC
Qua nhiều thế kỷ, lối sống và các diễn biến xã hội tại Coffee houses (Cách gọi ở thế kỷ XVII) đã thay đổi rất nhiều, nhưng đồng thời, có những giá trị gần như không hề mai một. Quán cà phê, qua nhiều khoảng thời gian và không gian, đã từng là một trong những tụ điểm công cộng chính để các thành viên của xã hội gặp gỡ, thảo luận về chính trị, tham gia kinh doanh, theo đuổi nghệ thuật, hoặc đơn giản là chuyện trò kết thân với mọi người. Với vai trò có ý nghĩa văn hóa như vậy, quán cà phê đã trở thành nền tảng cho rất nhiều biến đổi xã hội.
Phát hiện ra cà phê, ở một mặt nào đó cũng quan trọng như việc phát minh ra điện thoại hoặc kính hiển vi, trước khi có những phát kiến này chúng ta biết rất ít về thế giới rộng lớn hoặc những điều nhỏ bé đến khó tin. Đây là một sự thật kỳ diệu, kể từ khi phát hiện ra cà phê, một khối lượng lớn những người không phải là thiên tài đã tìm thấy trong bộ não của họ một sự phục tùng mạnh mẽ có nhiều khả năng của thiên tài.
Theo đó, những ghi chép đầu tiên về việc tiêu thụ cà phê có từ giữa thế kỷ 15 khi các nhà huyền môn Sufi (Ả Rập) bắt đầu sử dụng một loại đồ uống để giúp họ tỉnh táo trong khi cầu nguyện suốt đêm, nó được điều chế bằng cách đun vỏ quả cà phê phơi khô trong nước sôi. Khi người Sufi đi đến Ethiopia họ quan sát thấy được người dân địa phương sử dụng cà phê như thế và mang loại “thảo dược” này băng qua Biển Đỏ đến các khu vực phía nam của bán đảo Ả Rập (ngày nay là một phần của Yemen). Người Ethiopia gọi cách “pha cà phê” này là Buno, nhưng người Sufi đã đặt tên cho nó là Qishr.
2/ ĐẾ CHẾ OTTOMAN
Vào thời điểm những năm 1550,  thức uống đến Constantinople (thủ đô Thổ ​​Nhĩ Kỳ) của Đế chế Ottoman nó đã phát triển đáng kể. Cà phê được pha chỉ từ hạt cà phê, chứ không phải vỏ quả hay thứ gì khác của cây (có lẽ vì hạt cà phê tỏ ra dễ vận chuyển hơn). Các quán cà phê Thổ Nhĩ Kỳ bấy giờ được ưa chuộng vì phong cách bình đẳng của khách hàng, theo chỗ ngồi và theo thứ tự đến, không phân biệt theo thứ hạng tầng lớp.
 Tuy nhiên, phiên bản Ả Rập của thức uống vẫn chủ yếu là đun bằng nước sôi, sử dụng hạt rang nhẹ với đường. Ngay cả những khách hàng tương đối nghèo cũng nhận được lòng hiếu khách, vì họ có thể mua cà phê cho bạn đồng hành, qua đó tạo ra một lối sống xã hội và văn hóa tiêu dùng riêng. Tuy nhiên, quán cà phê cũng vấp phải sự phản đối bởi nhiều người đứng đầu xã hội (đáng chú ý nhất là việc hút thuốc lá) dẫn đến một số như tuyên bố như “bất cứ ai mở quán cà phê cũng nên bị treo lên cửa quán”
3/ XUNG ĐỘT CHÍNH TRỊ - TÔN GIÁO
Vụ chống đối đầu tiên với phong trào quán cà phê được ghi nhận xảy ra ở Mecca năm 1511, khi Khair Beg al-Mimar, một quan chức thế tục nổi tiếng trong chế độ tiền Ottoman, bắt gặp những người đàn ông uống cà phê bên ngoài nhà thờ Hồi giáo và nghi ngờ về việc đó. Các chi tiết của cuộc chống đối không rõ ràng, nhưng ông đã sử dụng các biện minh tôn giáo để ra lệnh chấm dứt tất cả việc bán và tiêu thụ cà phê. Những cuộc đàn áp cà phê sau đó còn xảy ra ở Mecca (một lần nữa), Cairo (nhiều lần), Istanbul và các khu vực khác của Ottoman.
Vào cuối thế kỷ 18, nhiều nơi gặp gỡ thế tục hơn đã xuất hiện, các nhóm bất đồng chính kiến ​​trở nên cố thủ hơn và các quán cà phê không còn là nơi ủ chứa của bất đồng chính kiến. Lệnh cấm đã được dỡ bỏ, mặc dù các nhà cai trị vẫn cài cắm các điệp viên trong đó để theo dõi những cuộc trò chuyện chống chế độ
4/ CÀ PHÊ TRỞ THÀNH DƯỢC PHẨM Y TẾ
Vào những năm 1570 cà phê đã nhanh chóng du nhập vào châu Âu. Cà phê được đưa đến Venice bởi các thương nhân Thổ Nhĩ Kỳ, cho đến nửa đầu thế kỷ 17, cà phê hầu như chỉ được cung cấp bởi các bác sĩ, dược sĩ với vai trò như một loại thảo dược. Các bang hội này vẫn giữ quyền kiểm soát thương mại của cà phê đến mức khó mà buôn bán như một mặt hàng cho tiêu dùng gia đình, chứ đừng nói đến việc phục vụ nó như một thức uống đại chúng.
Trong thế kỷ XVII, cà phê đã nhanh chóng bị đồng hóa vào “thị trường y dược” của Vương quốc Anh. Việc sử dụng nó được quảng bá bởi các nhà bào chế thuốc, bác sĩ, nhà bán lẻ và quan trọng nhất là bởi chính người tiêu dùng các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Ngay lập tức, người tiêu dùng Anh đã được giới thiệu về cà phê như là một loại thuốc mới và một loại đồ uống mới. Mặc dù được quảng bá như một loại dược phẩm, nhưng cà phê không chỉ giới hạn ở cơ sở y tế mà nó đồng thời trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa đô thị LonDon cũng như một thành phần mới của dược điển Anh thế kỷ XVII – Theo The Social Life of Coffee
5/ CAFFEINE-CÁI TÊN CỦA HỢP CHẤT TRONG LOẠI HẠT GÂY NGHIỆN
Caffeine lần đầu tiên được cô lập từ hạt cà phê vào năm 1820 bởi nhà hóa học F. Runge. Ở điều kiện phòng, caffeine nguyên chất là một loại bột tinh thể màu trắng, không mùi có vị đắng. Các tinh thể caffeine có thể gợi lại cho chúng ta về hình dạnh của các tinh thể băng tuyết, tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, caffeine có thể thay đổi trực tiếp từ trạng thái rắn sang trạng thái hơi mà không hóa lỏng như nước. Hơn nữa cái tên “Caffeine” không cung cấp bất kỳ thông tin nào về bản chất hóa học của chất này – Ngoài việc được xác định là chất hữu cơ thuộc nhóm Alkaloids.
Caffeine là chất kích thích được biết đến rộng rãi nhất trên trái đất và hạt cà phê là hệ thống phân phối hàng đầu của nó. Ngày nay, hầu hết dân số trên thế giới, bất luận giới tính, tuổi tác hay văn hóa đều tiêu thụ caffeine hàng ngày.
Trong khi chờ đợi sự khám phá của con người, loại thuốc này đã ngủ yên ở nhiều môi trường khác ngoài cà phê. Thiên nhiên như một khối rubik đa diện khổng lồ, do đó chúng ta vinh dự được ngắm nhìn caffeine dưới nhiều cách ngụy trang. Những loài thực vật có chứa caffeine được tìm thấy ở tất cả các nơi trên thế giới. Người Sudan ở Châu Phi có được lợi ích của caffeine từ một chiết xuất của hạt kola; những bộ tộc ở Nam Phi, lại tìm thấy một loại cây bụi tên cyclopia và sử dụng nó như một loại trà. Mặt khác, bằng việc rang rang Paullinia cupana, người Ấn Độ ở khu vực Amazon có một nguồn caffeine thay thế mà họ đặt tên là “Guarana”. Người Brazil và Paraguay, thì từ lâu cũng đã quen sử dụng caffeine từ một loại nước pha bởi lá Holly.
Thèm caffeine, hay nghiện cà phê hòa toàn có thể xuất phát từ nhu cầu sinh học bản năng của chúng ta
Một cốc cà phê ngon có thể biến một ngày tồi tệ nhất trở thành không đến nỗi, đem đến một khoảnh khắc trầm ngâm thưởng thức cực kỳ trọng yếu, nhen lại một cuộc tình. Nó đã từng bị cấm như là một nhân tố xuối giục các cuộc cách mạng nổi dậy ở những nước Ả Rập và châu Âu, nó đã bị lăng mạ như một kẻ hủy hoại sức khỏe ghê gớm nhất hành tinh. Và lại từng được tung hô lên tận mây xanh vì đã phục vụ lợi ích cho nhân loại.
Lúc đầu cà phê được coi như là thức uống có tác dụng chữa bệnh của tầng lớp tinh hoa, sau đó nó trở thành chất kích thích sành điệu được ưa thích bởi đám công nhân áo xanh trong giờ giải lao, thành kẻ khơi chuyện, buôn dưa lê trong nhà bếp của tầng lớp trung lưu, là keo dính lãng mạn cho những đôi lứa đang tán tỉnh, phải lòng nhau, và là người bạn chí cốt cay đắng, đơn độc cho những tâm hồn lạc lối sầu bi.
Chưa có đồ uống không cồn nào từng gặp phải nhiều sự phản đối như cà phê. Được nhà thờ trao cho thế giới và bảo chứng bởi nghề y, tuy nhiên nó vẫn phải chịu đựng sự mê tín tôn giáo và định kiến ​​y khoa. Sau hàng ngàn năm phát triển, nó đã trải qua những biến động chính trị khốc liệt, những chế tài ngu ngốc, những khoản thuế bất công, những đồn thổi vô lý; Nhưng, sống sót sau tất cả những điều này, nó đã đắc thắng chuyển đến một vị trí quan trọng nhất trong danh mục đồ uống phổ biến – William Ukers, All about Coffee
Một mặt, hình thức độc canh của cà phê đã đưa đến nạn áp bức và chiếm hữu đất đai đối với người bản địa ở nhiều quốc gia, đẩy nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang chỉ phục vụ cho mục đích xuất khẩu, để rồi hoàn toàn phụ thuộc vào những thị trường nước ngoài, phá hủy những cánh rừng nhiệt đới, và làm suy thoái môi trường. Mặt khác cây cà phê là nguồn sống và thu nhập chính của nhiều nông hộ, là cơ sở để tiến hành thành công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa một đất nước.
6/ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ
Châu Âu cho đến thời điểm này chủ yếu dựa vào đồ uống có cồn yếu để giải khát, sự có mặt của cà phê, với vai trò là một loại đồ uống không chỉ duy trì trạng thái tỉnh táo mà còn tiếp thêm sinh lực cho não. Chính mục đích này, quán cà phê trở thành nơi gặp gỡ của những thương nhân đã khơi màu cho sự ra đời của Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn.
Lần đầu tiên quán cà phê xuất hiện chính thức tại Pháp là vào năm 1689 với Café de Procope. Ban đầu người Pháp từ chối cà phê và các hình thức liên quan của nó do vị đắng, giá cao và sự bài xích với Hồi giáo và Ottoman. Landweber lập luận rằng một quá trình phức tạp đã diễn ra, trong đó cà phê đã từng được biến tấu theo “kiểu Pháp” đồng thời được tôn vinh là kỳ lạ. Người Pháp đã thêm sữa vào cà phê, tách rời thức uống từ nguồn gốc Ottoman mạnh mẽ của nó. Đối với các quán cà phê, họ làm cho thêm phần sang trọng với “bàn đá cẩm thạch, gương lớn và đèn chùm lạ mắt”.
Cà phê mang đến một khởi đầu kích thích nhưng tỉnh táo cho đến thời điểm này đã cho phép nó thay thế bia và rượu như một thức uống sáng suốt được lựa chọn bởi nhiều gia đình tư sản châu Âu. Trong thế kỷ 18 cà phê đã mở rộng vào các lãnh thổ Hà Lan ở Đông Á, đáng chú ý Java và các thuộc địa của Pháp ở Caribbean, Martinique,.. và trên hết, Saint Sebastue (Haiti ngày nay) đã nhanh chóng trở thành nguồn cà phê hàng đầu trên thế giới.
7/ SẢN XUẤT - THƯƠNG MẠI CÀ PHÊ
Suy cho cùng ấy chỉ là một loại quả, bên trong mỗi trái có hai nhân. Nó sinh trưởng như một bụi cây – hay lùm cây nhỏ, mọc ở cánh rừng nhiệt đới Ethiopia, hoặc chênh vênh trên các sườn núi, sườn đồi.
Nền văn minh, trong trong vòng xoáy phát triển của nó, đã chỉ ra ba loại đồ uống (không cồn) quan trọng nhất: Lá trà – dẫn đầu lượng tiêu thụ, tiếp đến là hạt cà phê, và cuối cùng là hạt ca cao. Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế, hạt cà phê chiếm một vị trí quan trọng hơn rất nhiều. Tất cả các quốc gia đều giữ cà phê ở một vị trí độc tôn, công nhận là một nhu cầu thiết yếu và là một hệ thống năng lượng hiệu quả.
Có thể là một sự may mắn thuần túy khi cà phê đến nơi mà chúng ta biết bây giờ là Trung Đông vào buổi bình minh của một thời kỳ học tập và giác ngộ chưa từng có trong thế kỷ 9 và 10. Cũng có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi mà trong 1.000 năm qua, trong hơn một vài lần, sự khám phá văn hóa về cà phê đã dẫn đến thế đối đầu với sức mạnh quyền lực toàn cầu: từ Ottoman, đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan và Mỹ. Nó có lẽ cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi mà các quá cà phê, hết lần này đến lần khác, đã định hình cách suy nghĩ mới, thách thức các hệ thống tư duy cũ và mở ra học hỏi và tranh luận.
Bất kỳ nơi nào cà phê  được mang đến, nó cũng báo hiệu một cuộc cách mạng. Nó là thứ thức uống cấp tiến nhất thế giới, vì tác dụng của nó là luôn luôn khiến con người phải tư duy. Và khi con người tư duy, họ trở nên nguy hiểm đối với những tên bạo chúa – William Ukers, All about Coffee
Thật vậy, việc tiêu thụ cà phê đã được liên kết ẩn sau với các phong trào phản kháng chính trị trong toàn bộ lịch sử của nó, ít nhất là cho đến thế kỷ XIX. Cà phê đã thúc đẩy tư duy rõ ràng và sống đúng bất cứ nơi nào được giới thiệu. Nó đã đi đôi với thế giới về phía trước khi tiến tới dân chủ.
Ngày nay, cà phê là sinh kế của hơn 20 triệu người. Công nhân phải điều chỉnh quy trình chế biến phức tạp loại bỏ vỏ vỏ và chất nhầy bao phủ nhân cà phê. Rồi nhân ấy phải được đem phơi khô nhiều ngày loại bỏ vỏ trấu và lớp màng lụa trước khi đóng bao bì để vận chuyển, rang, xay và pha chế trên khắp thế giới.
Trong suốt chiều dài lịch sử của ngành cà phê, lúc nào cũng có thể gặp những lời lẽ giống lên hồi chuông về sự bất công, đàn áp & cưỡng bức.. Nhưng không phải tất cả công nhân trồng cà phê trên những đồn điều đều bị bóc lột. Lỗi không nằm ở cây cà phê hay cách nó được vun trồng mà ở cách đối xử giữa các giai cấp xã hội – Mark Pendergrast, Uncommon Ground
Tại những nước sản xuất cà phê, danh sách những người kiếm sống từ loại hạt này vẫn còn được bổ sung dài dài: Có những nhà xuất khẩu, những nhà nhập khẩu, và những nhà xay. Có những thương nhân hăng máu trong những khu vực đấu giá của sàn giao dịch cà phê, khoa chân múa tay, gào thét, và làm giá một mặt hàng mà họ chẳng hề tận mắt nhìn thấy nó. Có những chuyên gia thẩm định cà phê (ngày nay chúng ta gọi là Cupping) dành cả ngày để xùy xụp, hít hà nước cà phê họ nếm. Có những nhà bán lẻ mới nổi, nhà cung cấp thiết bị, công ty quảng cáo, v.v..
8/ NĂNG LƯỢNG CHO THỂ CHẤT VÀ TRÍ TUỆ
Khi hệ thống thần kinh trung ương, não và tủy sống, bị xâm chiếm bởi tác động kích thích của caffeine, nó mang lại sự giãn nở của các mạch máu, caffeine ảnh hưởng đến trung tâm hô hấp mở rộng khí quản và nó xua tan sự tích tụ tê liệt ,thúc đẩy nhu động ruột và hoạt động của thận. Mọi tế bào của cơ thể con người, như đã được cải tạo, ngay khi tiếp nhận caffeine.
Nhà sinh lý học người Mỹ Horatio Wood đã nghiên cứu tác dụng của caffeine đối với sự lưu thông tuần hoàn và cơ bắp. Với các công trình nghiên cứu đồ sộ, Wood mô tả việc thúc đẩy năng lượng cơ bắp bằng caffeine như sau: “Caffeine hoạt động như một tác nhân kích thích các trung tâm phản xạ của hệ thần kinh. Nó cho phép các cơ co bóp mạnh hơn, không bị căng thẳng sau đó. Vì vậy, toàn bộ công việc cơ bắp được thực hiện bởi một người đàn ông đã sử dụng một lượng caffeine lớn hơn trạng thái mặc định mà anh ta có thể làm.”
Wood cũng đã rút ra kết luận: “Nếu cơ luôn hoạt động tốt hơn với sự có mặt của caffeine, mà không phải trả giả cho điều này bằng bất kỳ cách nào khác ngoài việc bắt đầu mệt mỏi tự nhiên, chúng tôi buộc phải nhận ra rằng caffeine không chỉ đơn thuần là tăng cường sức mạnh của sự co cơ, mà còn cho phép các cơ thể hoạt động hiệu quả hơn với cùng một khoản tiêu hao năng lượng.”
Dù thực tế rằng, caffeine là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên, và cây cà phê dùng nó để tác động đến hệ thần kinh của côn trùng, không khuyến kích chúng ăn loại cây này. Tuy nhiên chính điều đó lại hấp dẫn con người. Thật khó để đưa ra một mô tả sống động hơn của sức mạnh sáng tạo và tự do của con người mà cà phê tác động lên não. Ảnh hưởng bốc đồng, nổi loạn, chống bảo thủ này đã làm cho cà phê, trong suốt lịch sử của nó trở thành một điềm báo của cách mạng và dấy lên sự hỗn loạn.
Vào thế kỷ XVII, người Hà Lan đã mang về từ Yemen hạt giống cà phê Arabica (bất hợp pháp vào thời điểm này) và vận chuyển chúng đến các thuộc địa của họ ở Indonesia. Họ đã trồng chúng và bắt đầu ngành nông nghiệp cà phê, đặc biệt là trên đảo Java. Sau đó, họ bắt đầu mở các đồn điền lớn ở Sumatra và Bali. Người Hà Lan đã trở thành những người buôn bán cà phê hàng đầu ở Châu Âu.
Do các chính sách Hệ thống trồng trọt (Cultuurstelsel) thỏa thuận giữa người Hà Lan và các nhà lãnh đạo bộ lạc nơi họ xâm chiếm, người dân địa phương đã buộc phải ngừng trồng lúa, cây ăn trái, rau quả – những thứ họ cần để duy trì cuộc sống mà thay vào đó, chuyển đất sang sản xuất cà phê. Chính sách này đã mang lại cho Hà Lan và các đồng minh Indonesia tài sản khổng lồ thông qua xuất khẩu, nhưng đồng thời mở ra một nạn đói khủng khiếp, gây ra nhiều cái chết, buộc người Hà Lan phải đã từ bỏ chính sách này và cho phép người dân địa phương trồng cây lương thực cùng với cà phê.
“Max Havelaar” hoặc “Các cuộc đấu giá cà phê của Công ty Thương mại Hà Lan”, là cuốn tiểu thuyết theo chủ nghĩa lý tưởng trẻ, muốn chấm dứt sự ngược đãi và áp bức đối với người Java bản địa do buôn bán cà phê & tham nhũng gây ra. Cuốn tiểu thuyết đã gây tranh cãi khi nó được xuất bản lần đầu tiên ở Hà Lan, vì sự lột trần đối với các công ty cà phê lúc bấy giờ, nhưng đạt được sự ủng hộ rất lớn, trong thế kỷ XX nó đã được dịch sang 34 thứ tiếng.
Để công nhận sức ảnh hưởng của cuốn tiểu thuyết này trong xã hội Hà Lan, cũng như xác định vai trò mà quốc gia của họ đã đóng góp trong lịch sử cà phê, cái tên Max Havelaar đã được phong trào Fair trade sử dụng như một biểu trưng cho mục tiêu của họ. Vào những năm 1980, khi giá cà phê đã giảm mạnh, một nhóm các tổ chức xã hội và giáo hội Hà Lan đã cùng nhau thành lập Quỹ Max Havelaar vào năm 1988 để thúc đẩy buôn bán và sản xuất các sản phẩm cà phê được chứng nhận là thương mại bình đẳng.
Người trồng, dù ở Châu Phi hay Nam Mỹ, giao dịch với một nhà môi giới – người kiếm lợi nhuận bằng cách sắp xếp để bán nhân cà phê ấy cho người xuất khẩu. Nhà xuất khẩu trả tiền cho người trồng và sau đó bán cà phê cho một nhà nhập khẩu, đồng thời thêm biên lợi nhuận của anh ta vào nhân cà phê ấy,.. Nhà rang xay bán cà phê cho một nhà bán buôn, hoặc cho một chủ cửa hàng cà phê, sau đó họ sẽ tăng giá một lần nữa để trang trải tiền thuê nhà xưởng, thuế và chi phí lao động khác. Nói tóm lại, đó là một chặng đường dài từ cây đến cốc với nhiều cơ hội lạm dụng giá cả và sự bất bình đẳng liên tục được bồi đắp.
Việc trồng cà phê là một cách để hạn chế nghèo đói, nhưng chắc chắn không phải là con đường dẫn đến sự thịnh vượng – Britta Folmer 
Khi thế kỷ XX kết thúc, nhiều phong trào thu hút sự chú ý đến tính mất cân đối trong kinh tế của thương mại cà phê đã có tiếng nói lớn hơn trong cuộc tranh luận. Nhưng đây không phải là một phát kiến mới. Trong nhiều thập kỷ, đã có nhiều nỗ lực được được thực hiện để nâng cao nhận thức người tiêu dùng đối với chi phí thực sự của cà phê sáng giá rẻ của họ và hoàn cảnh của người trồng – Carol Robertson
Trước tiên, lấy lại sự công bằng về giá
Nguyên tắc thương mại bình đẳng áp dụng cho một số mặt hàng, nhưng đặc biệt là cà phê – đây là mặt hàng được giao dịch nhiều nhất sau dầu hỏa. Và mặc dù sự bất bình đẳng đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng các năm 1980 đến 1990 là thời kỳ tăm tối nhất của giá cà phê khi hệ thống hạn ngạch của ICO sụp đổ, chi phí trả về cho người trồng nằm ở mức đáy. Đầu những năm 2000, sự suy thoái giá cà phê thế giới đã gây ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng cho người trồng. Tại Việt Nam, lúc này đang là nước sản xuất cà phê lớn thứ ba thế giới, sau Brazil và Colombia, giá cà phê xanh chỉ bù lại cho người trồng chưa đến 60% chi phí sản xuất.
Một trong những nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất của phong trào Fair trade trong thương mại là đảm bảo lợi nhuận trong trong sản xuất cà phê của thông qua một mức giá tối thiểu cho nông dân (cho cà phê của họ) bất kể giá thị trường hiện là bao nhiêu. Thêm vào đó, các nhóm Fair trade sẽ làm việc với các hợp tác xã của các nông dân nhỏ, và đảm bảo một khoản tín dụng lên tới 60% giá cả trước khi họ thực sự giao cà phê để cho phép họ đầu tư vào sản xuất.
Tiếp đến, xây dựng tính bền vững
Một vấn đề khác cũng thu hút sự chú ý vào cuối thể kỷ 20 là sự tàn phá của những khu rừng mưa rộng lớn và suy thoái môi trường do các đồn điền cà phê lớn gây ra. Nửa sau của thế kỷ đã chứng kiến sự thay đổi trong cách thức trồng và sản xuất cà phê, do sự gia tăng nhanh chóng trong sản xuất cà phê và sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng đối với cà phê đặc sản. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này, ngành công nghiệp cà phê đã chuyển từ sự phụ thuộc vào các nhà sản xuất cà phê nhỏ sang trồng công nghiệp trên các đồn điền lớn hơn.
Theo truyền thống, cà phê đã được trồng dưới tán cây che bóng trong hàng thế kỷ, cho đến khi yêu cầu năng xuất thúc đẩy những thay đổi trong canh tác. Nông dân trồng cà phê đã chuyển đổi từ bóng râm sang phơi sáng, chặt cây che bóng để trồng cà phê ngoài trời. Các giống cà phê phát triển mạnh dưới ánh mặt trời cũng bắt đầu thay thế cà phê truyền thống.
Không phải chỉ vì cây cà phê mà môi trường sẽ xấu đi càng nhiều, cũng không phải chỉ vì nhãn dán môi trường mà nhiều điều tốt đẹp sẽ đến với người canh tác cà phê hay né tránh được biến đổi khí hậu
Cà phê được trồng phơi sáng dưới ánh mặt trời được quảng bá vì hai lý do. Một là nhu cầu về cà phê tăng lên đã tạo ra động lực để thúc đẩy sản xuất tăng mạnh sau đó. Nhiều cây hơn được trồng phơi sáng trực tiếp trên một diện tích trồng  giúp tăng gấp ba lần năng suất so với cây được trồng trong bóng râm. Và cũng chính sự ám ảnh của nông dân đối với bệnh rỉ sét cà phê cũng dẫn đến việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón trên các đồn điền cà phê ngày càng tăng.
Nhu cầu này đã thúc đẩy rất nhiều phong trào chứng nhận cà phê khác nổi lên như canh tác dưới bóng râm (Shade-grown coffee), thân thiện với chim (Bird-friendly coffee), và Fair trade cũng có giá trị tương ứng. Như một lợi ích bổ sung, nhiều người sành cà phê cho rằng cà phê hữu cơ trồng dưới bóng râm có tiềm năng hương vị tốt hơn cà phê được sản xuất hàng loạt. Thực tế là là cà phê được trồng bằng các phương pháp truyền thống này mất nhiều thời gian hơn để trưởng thành và một hạt cà phê chín từ từ sẽ tích lũy được nhiều hương vị hơn.
Trong những năm gần đây, các tổ chức Fair trade đã bị chỉ trích tương đương với niềm tin về những lợi ích mà họ mang lại. Bởi vì họ đã tham gia vào mối quan hệ với các nhà bán lẻ cà phê lớn, như Starbucks và Dunkin ‘Donuts, cấp phép quyền sử dụng nhãn “Fair Trade Certified” trên cà phê được bán trong các cửa hàng của những thương hiệu này. Điều này làm dấy lên lo ngại, rằng họ sử dụng Fair trade như một vỏ bọc để nâng cao hình ảnh cộng đồng nhằm thu hút sự chú ý khỏi những lạm dụng thực sự trong thương mại cà phê. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đối lập cũng khen ngợi các công ty tương tự về các bước đi họ đang thực hiện.
Cách thức chính mà các tổ chức này được phân biệt với các tổ chức Fair trade là giá cả mà họ trả cho cà phê. Chứng nhận Fair trade đảm bảo mức giá tối thiểu cho người trồng, thường cao hơn giá thị trường vì nó dựa trên biên lợi nhuận hợp lý cho người trồng để tái đầu tư vào các đồn điền của họ chứ không phải sự biến động mơ hồ của giá cả. Các nhà phê bình của phong trào Fair trade cho rằng việc đảm bảo giá tối thiểu theo Fair trade chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề suy thoái giá cà phê. Nó thu hút người trồng vào thị trường bởi một mức giá cao giả tạo, từ đó dẫn đến nguồn cung cà phê dư thừa.
Có vẻ không hợp lý khi hy vọng các tổ chức đa quốc gia lớn sẽ chuyển đổi nguồn cung ứng của mình sang các sản phẩm được chứng nhận thương mại bình đẳng. Và có một số lo ngại về việc liệu thị trường Fair trade có thể trở nên đủ lớn để đạt được sự cải thiện thực sự về tiêu chuẩn ở các quốc gia đang phát triển hay không. Tuy nhiên, doanh số bán cà phê được chứng nhận Fair trade đã tăng đáng kể ở trong vài năm qua.
Bài viết được sưu tầm nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy Valencoffee luôn hoan nghênh các đóng góp từ quý bạn đọc

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

QUÁN CÀ PHÊ "CỰC BẮC" - NƠI CHECK IN CÙNG LÚC HAI QUỐC GIA

Cafe Cực Bắc là quán cà phê duy nhất ở thôn Lô Lô Chải thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, cách cột cờ Lũng Cú 1,4 km và cách cột mốc 419 giáp ranh tỉnh Vân Nam của Trung Quốc chưa đầy 1 km. Quán cà phê do ông Ogura Yasushi - một người Nhật từng có nhiều năm sinh sống tại Việt Nam và đặc biệt yêu mến Hà Giang - xây dựng. Ông đầu tư gần như toàn bộ số vốn của mình để tạo nên quán cà phê độc đáo này và sau đó giao lại toàn bộ cho một gia đình người Lô Lô để hoạt động kinh doanh. Được bao quanh bởi một lớp hàng rào đá, quán mang không gian, kiến trúc theo phong cách truyền thống của người Lô Lô với nhà trình tường được dựng lên từ đất sét và đất thịt, mái lợp ngói âm dương. Quán chỉ có khoảng 4 đến 5 chiếc bàn nhỏ xinh đặt ngoài sân, ngay cạnh quầy bar và đủ cho khoảng trên dưới 10 người ngồi. Người phụ nữ Lô Lô chủ nhà, cũng là người pha chế đồ uống, có thể nói được tiếng Anh. Chị giới thiệu quán có món cà phê pha phin truyền thống của người Việt, trà xanh matcha của người Nhật...

LỜI CẢM ƠN NGÀY CUỐI CÙNG CỦA 2019

Ngày cuối năm 2019: Cuộc sống thật là ý nghĩa để VALEN được trải nghiệm, được tận hưởng niềm hạnh phúc khi giá trị tạo ra được đón nhận. Và giây phút này, VALEN chân thành cảm ơn tận đáy lòng: - Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy VALEN COFFEE vẫn còn thấy mình tồn tại. - Cảm ơn những người trong gia đình đã hết mực yêu thương là bố mẹ, là anh/chị/em... - Cảm ơn những người đáng mến trong cuộc sống, cả thế giới offline lẫn online, mà VALEN hay theo dõi, học tập & noi theo. - Cảm ơn những giá trị được cho đi trong xã hội mà VALEN nhận được mỗi ngày của thế giới văn minh. - Cảm ơn tất cả những ai đã yêu thương VALEN & luôn dành tặng những nguồn năng lượng tích cực. - Cảm ơn những khó khăn, thách thức đã giúp VALEN rèn luyện thêm để tăng bản lĩnh. - Cảm ơn 2019 để chào đón một năm mới 2020 tốt đẹp hơn. - Cảm ơn tất cả & CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2020.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC UỐNG TRÀ

Theo các nghiên cứu của Đông y xưa, việc uống trà đều đặn thường xuyên sẽ mang lại những tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Giống như thực phẩm, mỗi loại trà sẽ có những tác dụng khác nhau đối với sức khỏe và thể chất của mỗi người. Đông y Trung Quốc cho rằng, khi sử dụng trà, cơ thể sẽ có sự thay đổi đáng kể dựa vào từng chủng loại trà mà chúng ta chọn uống. Trà đen  (hồng trà) có tính ấm, loại bỏ lạnh, làm ấm dạ dày, có tác dụng bổ dưỡng rất hiệu quả.  Trà xanh  tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, nâng cao tinh thần, sảng khoái, vì vậy, nếu quý ông muốn bổ thận tráng dương, nên chọn hồng trà để sử dụng đều đặn.  Sở dĩ Đông y khuyên bạn nên chọn hồng trà vì đây vốn được xem là một biểu tượng tuyệt vời của những người yêu thích sự tĩnh lặng, chậm rãi và an yên thưởng trà. Tuy nhiên, về sau này, nhiều người chọn uống trà đen kết hợp với ngũ vị dược thảo, tạo thành món trà bổ dương - ích tinh, bổ thận - cường thân vô cùng đặc biệt.  Thậm chí, n...